Đái tháo đường tuýp 1

Đái tháo đường tuýp 1 thường được gọi là đái tháo đường phụ thuộc Insulin là một bệnh tự miễn...

 Đái tháo đường tuýp 1 thường được gọi là đái tháo đường phụ thuộc Insulin là một bệnh tự miễn. Hệ thống miễn dịch của cơ thể đã sinh ra các kháng thể chống lại và phá hủy tế bào beta của đảo tụy dẫn đến thiếu hụt insulin làm tăng glucose máu.

 Đái tháo đường tuýp 1 chiếm khoảng 5-10% tổng số bệnh nhân ĐTĐ, xảy ra phần lớn ở trẻ em và người trẻ tuổi (<20Tuổi)

Các giai đoạn tiến triển của bệnh (Các giai đoạn của quá trình tự miễn hủy hoại tế bào beta):

Giai đoạn 1: Giai đoạn nhạy cảm gen: Từ những nghiên cứu về gen trong các gia đình người bệnh, các nhà khoa học đã tìm ra được các gen có tính nhạy cảm với bệnh đái tháo đường, tuy nhiên cần có yếu tố tác động  khởi phát của môi trường và đái tháo đường tuýp 2 có tính nhạy cảm về gen cao hơn.

Giai đoạn 2: Khởi phát quá trình tự miễn dịch: Giai đoạn này các yếu tố môi trường phát huy vai trò khởi phát bệnh. Đây là giai đoạn được quan tâm vì có thể can thiệp để phá vỡ chu trình bệnh căn, bệnh sinh của bệnh. Những người có gen nhạy cảm nhưng nếu không có các yếu tố môi trường cần thiết để kích thích khởi phát các phản ứng tự miễn thì bệnh đái tháo đường tuýp 1 cũng không xảy ra.

Các yếu tố môi trường gây khởi phát quá trình tự miễn:

-Virus

-Thức ăn

Giai đoạn 3: Giai đoạn hoạt động miễn dịch: Dựa theo nhiều nghiên cứu từ năm 1970 đến nay, các nhà khoa học đã xác định được một số tự kháng thể kháng tế bào beta. Có 4 loại tự kháng thể nhạy cảm đặc hiệu nhất là:Tự kháng thể kháng bào tương tế bào đảo (ICA), tự kháng thể kháng insulin (IAA), các tự kháng thể kháng tryrosin phosphatase tế bào đảo (Anti-GAD và IA-2)

Giai đoạn 4:Giai đoạn mất khả năng bài tiết Insulin: khả năng bài tiết insulin bị mất một cách từ từ khi có kích thích của glucose. Do tổn thương chức năng của tế bào tiểu đảo beta còn lại và hoặc mất về số lượng tế bào beta đã đủ mức dẫn đến mất khả năng đáp ứng insulin pha đầu gây ra các rối loạn chuyển hóa glucose (Tiền đái tháo đường). Đây là giai đoạn được quan tâm nghiên cứu để có thể can thiệp phòng tránh đái tháo đường.

Giai đoạn 5: Đái tháo đường lâm sàng, xuất hiện các biến chứng: được đánh dấu bởi sự khởi phát lâm sàng của đái tháo đường tuýp 1, tức là có biểu hiện ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều và gầy sút. Khi tế bào beta bị mất hoàn toàn, đái tháo đường trở lên khó kiểm soát và xuất hiện biến chứng.

Phân loại của đái tháo đường tuýp 1:

Tuýp 1a: Chiếm 80%, thể này có các kháng thể kháng tế bào đảo thoáng qua ngay từ lúc khởi đầu của bệnh

Tuýp 1b: Các kháng thể kháng tế bào đảo dai dẳng với hàm lượng cao và thường kết hợp với các rối loạn miễn dịch khác.

Triệu chứng lâm sàng:

Các triệu chứng lâm sàng của bệnh:

+ Đái nhiều

+Uống nhiều

+Gầy nhiều

+Dị cảm: phản ánh tình trạng chức năng của thần kinh cảm giác ngoại vi

+ Khi thiếu Insulin nặng dẫn đến các triệu chứng nhiễm toan ceton nặng như: mất nước, chán ăn, buồn nôn và nôn

+ Khi áp lực thẩm thấu > 330mOsm/l (bình thường áp lực thẩm thấu máu 285-295 mOsm/l) sẽ gây mất ý thức; nếu pH ≤7,1 sẽ có các triệu chứng về rối loạn hô hấp như thở nhanh, thở sâu.

Dấu hiệu lâm sàng:

+ Tùy theo mức độ nhiễm toan ceton mà có tình trạng mất ý thức tương ứng

+ Nôn: là dấu hiệu phản ánh tình trạng nhiễm toan ceton

+Trạng thái lơ mơ, ngủ gà, sững sờ thậm chí hôn mê sẽ xảy ra.

+ Hạ huyết áp tư thế chứng tỏ sự suy giảm thể tích huyết tương còn hạ huyết áp tư thế nằm là dấu hiệu nguy hiểm đến tính mạng người bệnh.

+Mất mỡ dưới da, teo, nhẽo cơ là tình trạng thiếu insulin tịnh tiến lâu ngày.

Dấu hiệu cận lâm sàng:

+ Xét nghiệm máu:

Glucose máu tăng cao, thường lên 13,9mmol/l

pH máu động mạch < 7,2

Bicacbonat (huyết tương) < 15mg/l

Ceton máu tăng

+ Xét nghiệm nước tiểu:

Ceton niệu dương tính

Tế bào niệu, nếu cần thiết phải cấy vi khuẩn niệu.

Điều trị: Dùng Insulin kết hợp với chế độ ăn uống và luyện tập

 

( Nguồn: Hataphar )
 


Bài viết liên quan

LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI

Support

Sản phẩm được nhiều người quan tâm